27/08/2015 00:00
Xem với cỡ chữ

Nghị định số 37/2015/NĐ-CP quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng

Nguyễn Thị Như Hoa Chi nhánh VDB Ninh Bình, Bài viết đăng trên Tạp chí HTPT số 106.

Hợp đồng xây dựng là hợp đồng dân sự được thỏa thuận bằng văn bản giữa bên giao thầu và bên nhận thầu để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc trong hoạt động đầu tư xây dựng.
Hợp đồng xây dựng có hiệu lực là cơ sở pháp lý cao nhất mà bên giao thầu, bên nhận thầu và các bên liên quan có nghĩa vụ thực hiện.
Các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan kiểm soát, cấp phát, cho vay vốn, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán và các cơ quan có liên quan khác phải căn cứ vào nội dung hợp đồng xây dựng có hiệu lực pháp lý để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định.
Ngày 22/4/2015 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 37/2015/NĐ-CP quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 15/6/2015, thay thế Nghị định số 48/2010/NĐ-CP ngày 07/5/2010 của Chính phủ về hợp đồng trong hoạt động xây dựng và Nghị định số 207/2013/NĐ-CP ngày 11/12/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 48/2010/NĐ-CP.
So với Nghị định số 48/2010/NĐ-CP, Nghị định 37/2015/NĐ-CP có một số điểm mới đáng lưu ý:
Phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 37/2015 rộng hơn so với Nghị định 48/2010/NĐ-CP.
Nghị định số 48/2010/NĐ-CP quy định về hợp đồng trong hoạt động xây dựng thuộc các dự án đầu tư xây dựng có sử dụng 30% vốn nhà nước trở lên.
Nghị định số 37/2015/NĐ-CP quy định phạm vi điều chỉnh của Nghị định này là hợp đồng xây dựng thuộc các dự án sau:
+ Dự án đầu tư xây dựng của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập;
+ Dự án đầu tư xây dựng của doanh nghiệp nhà nước;
+ Dự án đầu tư xây dựng không thuộc hai trường hợp trên nhưng có sử dụng vốn nhà nước, vốn của doanh nghiệp nhà nước từ 30% trở lên hoặc dưới 30% nhưng trên 500 tỷ đồng trong tổng mức đầu tư của dự án.
Về việc phân loại hợp đồng xây dựng: Nghị định số 48/2010/NĐ-CP phân loại hợp đồng xây dựng căn cứ theo tính chất công việc của hợp đồng (có 8 loại) và căn cứ theo giá hợp đồng (có 5 loại).
Nghị định số 37/2015/NĐ-CP bổ sung thêm căn cứ để phân loại hợp đồng:
- Nếu căn cứ theo tính chất, nội dung công việc thì hợp đồng xây dựng có 10 loại, trong đó có bổ sung thêm: Hợp đồng cung cấp nhân lực, máy và thiết bị thi công; các loại hợp đồng xây dựng khác.
- Nếu căn cứ theo hình thức giá hợp đồng, Nghị định mới bỏ loại hợp đồng theo tỷ lệ %, đồng thời bổ sung hình thức hợp đồng theo giá kết hợp.
- Nếu căn cứ theo mối quan hệ của các bên tham gia hợp đồng, có các loại hợp đồng: hợp đồng thầu chính, hợp đồng thầu phụ, hợp đồng giao khoán nội bộ, hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài.
Về nguyên tắc ký kết hợp đồng xây dựng: Nghị định số 37/2015/NĐ-CP quy định bổ sung một số nội dung sau: Tại thời điểm ký kết hợp đồng bên nhận thầu phải đáp ứng điều kiện năng lực hành nghề, năng lực hoạt động theo quy định của pháp luật về xây dựng.
Đặc biệt, Nghị định có quy định: Đối với nhà thầu chính nước ngoài, phải có cam kết thuê thầu phụ trong nước thực hiện các công việc của hợp đồng dự kiến giao thầu phụ khi các nhà thầu trong nước đáp ứng được yêu cầu của gói thầu.
Về giá hợp đồng xây dựng: Nghị định số 37/2015/NĐ-CP quy định bổ sung điều kiện áp dụng đối với: hợp đồng trọn gói, hợp đồng theo đơn giá cố định, hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh, hợp đồng theo thời gian.
Về bảo đảm thực hiện hợp đồng: Nghị định số 48/2010/NĐ-CP quy định: bảo đảm thực hiện hợp đồng không bắt buộc đối với hợp đồng tư vấn xây dựng và những hợp đồng xây dựng theo hình thức tự thực hiện; mức bảo đảm tối đa là 10% giá trị hợp đồng.
Nghị định số 37/2015/NĐ-CP có thay đổi, bổ sung một số nội dung sau: khuyến khích áp dụng hình thức bảo đảm bằng bảo lãnh; bảo đảm thực hiện hợp đồng không bắt buộc đối với hợp đồng tư vấn xây dựng, hợp đồng giao khoán nội bộ, hợp đồng xây dựng thuộc các chương trình mục tiêu do các hộ dân thực hiện và những hợp đồng xây dựng theo hình thức tự thực hiện; mức bảo đảm được xác định trong khoảng từ 2%-10% giá hợp đồng.
Về bảo đảm thanh toán hợp đồng xây dựng: Điều 17 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP quy định rõ việc bên giao thầu phải bảo đảm thanh toán hợp đồng xây dựng:
Bảo đảm thanh toán hợp đồng xây dựng là việc bên giao thầu thực hiện các biện pháp nhằm chứng minh khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng xây dựng đã ký kết với bên nhận thầu thông qua các hình thức như kế hoạch bố trí vốn được phê duyệt, bảo đảm của ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng, hợp đồng cung cấp tín dụng hoặc thỏa thuận cho vay vốn với các định chế tài chính.
Trước khi ký kết hợp đồng xây dựng, bên giao thầu phải có bảo đảm thanh toán phù hợp với tiến độ thanh toán đã thỏa thuận trong hợp đồng. Nghiêm cấm bên giao thầu ký kết hợp đồng xây dựng khi chưa có kế hoạch vốn để thanh toán theo thỏa thuận thanh toán trong hợp đồng, trừ các công trình xây dựng theo lệnh khẩn cấp.
Về tạm ứng hợp đồng xây dựng Quy định về bảo lãnh tạm ứng: Theo Nghị định số 48/2010/NĐ-CP thì việc bên nhận thầu có cần thực hiện bảo lãnh tiền tạm ứng hay không là do bên giao thầu và bên nhận thầu thỏa thuận.
Tuy nhiên, theo Nghị định số 37/2015/NĐ-CP: Nếu giá trị tạm ứng lớn hơn 01 tỷ đồng thì để được tạm ứng, bên nhận thầu phải nộp cho bên giao thầu bảo lãnh tạm ứng hợp đồng với giá trị và loại tiền tương đương khoản tiền tạm ứng hợp đồng.
- Quy định về mức tạm ứng: Có sự thay đổi về mức tạm ứng tối thiểu đối với hợp đồng tư vấn.
Theo Nghị định số 48/2010/NĐ-CP: Mức tạm ứng tối thiểu đối với hợp đồng tư vấn là 25% giá trị hợp đồng.
Tuy nhiên theo Nghị định số 37/2015/NĐ-CP: Mức tạm ứng tối thiểu là 15% giá hợp đồng đối với hợp đồng có giá trị trên 10 tỷ đồng, tối thiểu là 20% đối với hợp đồng có giá trị đến 10 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, Nghị định mới bổ sung quy định: Trường hợp các bên thỏa thuận tạm ứng ở mức cao hơn mức tạm ứng tối thiểu thì phần giá trị hợp đồng tương ứng với mức tạm ứng hợp đồng vượt mức tạm ứng tối thiểu sẽ không được điều chỉnh giá kể từ thời điểm tạm ứng.
Về thanh toán hợp đồng xây dựng, Nghị định số 37/2015/NĐ-CP quy định bổ sung nội dung sau: Đối với các hợp đồng xây dựng thuộc các dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ODA, vốn vay của các tổ chức tín dụng nước ngoài thì thời hạn thanh toán thực hiện theo quy định của Điều ước quốc tế.
Nghiêm cấm bên giao thầu không thanh toán đầy đủ hoặc không đúng thời hạn theo các thỏa thuận trong hợp đồng cho bên nhận thầu.
Về điều chỉnh tiến độ thực hiện hợp đồng xây dựng: Nghị định số 37/2015/NĐ-CP quy định bổ sung một số trường hợp được điều chỉnh tiến độ thực hiện hợp đồng như sau: Thay đổi, điều chỉnh dự án; tạm dừng hợp đồng do lỗi của bên giao thầu; tạm dừng thực hiện công việc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà không do lỗi của bên giao thầu gây ra.
Về mua bảo hiểm trong thời gian xây dựng công trình: Nghị định số 48/2010/NĐ-CP quy định các công trình trong thời gian xây dựng đều phải mua bảo hiểm.
Tuy nhiên Nghị định 37/2015/NĐ-CP quy định việc mua bảo hiểm là bắt buộc đối với các công trình có ảnh hưởng đến an toàn cộng đồng, môi trường, công trình có yêu cầu kỹ thuật đặc thù, điều kiện thi công phức tạp.
Về hợp đồng thầu phụ, Nghị định số 37/2015/NĐ-CP quy định bổ sung nội dung sau: Nhà thầu nước ngoài khi thực hiện hợp đồng xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam, với vai trò là nhà thầu chính phải sử dụng nhà thầu phụ trong nước, đáp ứng được các yêu cầu của gói thầu và chỉ được ký hợp đồng thầu phụ với các nhà thầu phụ nước ngoài, khi các nhà thầu phụ trong nước không đáp ứng được yêu cầu của gói thầu. Đối với các vật tư, thiết bị tạm nhập tái xuất phải được quy định cụ thể trong hợp đồng theo nguyên tắc ưu tiên sử dụng các vật tư, thiết bị trong nước đáp ứng được yêu cầu của gói thầu.
Ngoài ra, Nghị định số 37/2015/NĐ-CP còn một số thay đổi về các khoảng thời gian trong các quy định về: Chấm dứt hợp đồng, khiếu nại trong quá trình thực hiện hợp đồng, giải quyết tranh chấp hợp đồng.

Tìm theo ngày :